🌬️ Gốm Sứ Việt Nam Qua Các Thời Kỳ

Lịch sử gốm sứ Việt Nam qua các thời kỳ. Gốm sứ Việt Nam đã trải qua những thăng trầm lịch sử, tuy nhiên vẫn giữ được những nét tinh xảo, những giá trị truyền thống của thế hệ đi trước để có được một thị trường gốm sứ phát triển mạnh như hiện nay qsgS. Đang tải.... xem toàn văn Thông tin tài liệu Ngày đăng 02/03/2015, 0137 . như Đồ sứ men trắng vẽ lam, đồ sứ ngự dụng và quan dụng thời Lê - Nguyễn, đồ sứ ký kiểu của Triều Nguyễn, gốm men xanh trắng của triều Nguyễn, gốm lam Huế, đồ sứ đặc chế, đồ Lam Huế, đồ sứ đặt. mẫu qua đặt lò gốm tại Giang Tây - Trung Quốc. Thuật ngữ đồ sứ ký kiểu ĐSKK trong sách này được dùng để chỉ những đồ sứ do người Việt Nam, gồm cả vua, quan và thường dân, đặt làm tại các lò gốm. từ gốm thời Lý, nên các loại gốm thời Trần cơ bản có phong cách giống với gốm thời Lý cả về hình dáng, màu men và hoa văn trang trí. Cũng chính vì đặc thù này nên việc phân tách giữa gốm thời - Xem thêm -Xem thêm Đồ gốm sứ việt nam qua các thời đại, Đồ gốm sứ việt nam qua các thời đại, Mục lục1 Gốm sứ Việt Nam không ngừng phát triển qua mọi thời đại2 Tìm hiểu đồ gốm sứ Việt Nam qua các thời Gốm thời Lý Gốm thời Trần Gốm thời Lê sơ Gốm sứ Chu Gốm sứ Bát Tràng3 Gốm sứ Việt Nam ngày nay có đặc điểm gì? Việt Nam là một trong những nơi gốm xuất hiện sớm. Theo các tài liệu khảo cổ, cách đây một vạn năm, ở Việt Nam đã ra đời loại gốm đất nung. Để tìm hiểu sự phát triển và hình thành nên nghề gốm sứ các bạn không thể bỏ qua bài chia sẻ [ Thuyết minh ] Tìm hiểu đồ gốm sứ Việt Nam qua các thời đại sau đây Gốm sứ Việt Nam không ngừng phát triển qua mọi thời đại > Kết quả khảo cổ học cho biết đồ Gốm đã được người Việt chế tác, sử dụng cách đây khoảng 10. 000 năm. Có thể nói gốm sứ Việt Nam nói riêng hay gốm sứ trên thế giới nói chung không chỉ còn là những đồ dùng thủ công phục vụ nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người chén, ấm, đĩa, tô… mà còn hơn thế nó đã trở thành một nét hồn dân tộc, trở thành một vẻ đẹp riêng, một niềm tự hào riêng nói lên cốt cách, tâm hồn của cả một đất nước. Điển hình là thương hiệu gốm sứ Bát Tràng đã đi vào lòng người biết bao thế hệ trong và ngoài nước. > Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là “Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò”. Cụ thể là để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải trải qua các khâu chọn, xử lí và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm. Gốm thời Lý Đặc điểm gốm sứ tráng men hời Lý 1010-1224 bap gồm gốm men trắng ngà ,men nâu và men ngọc màu xanh. Gốm men ngọc thời Lý rất tinh tế, xương đất được lọc kỹ, dày và chắc. Lớp men gốm dày phủ kín xương gốm, mịn, bóng, sờ có cảm giác mát tay. Xương gốm và lớp men bám vào nhau rất chắc. Gốm men trắng Lý có độ trắng mịn và óng mượt và phần nhiều về chất lượng đã đạt tới trình độ sứ. > Men gốm sứ thời Lý trong suốt, sâu thẳm, mịn, lấp lánh ánh sáng. Gốm men ngọc xanh có điểm thêm các sắc vàng chanh, vàng xám nhạt, vàng rơm. Sự khác nhau giữa gốm trắng Lý và gốm trắng Tống Trung Quốc chủ yếu được nhìn nhận qua sắc độ đậm nhạt của màu men hay xương gốm và kỹ thuật chế tác. Đây cũng là đặc điểm khó phân biệt giữa gốm trắng Lý với gốm trắng Tống. Gốm thời Trần Gốm thời Trần1225-1339 có rất nhiều loại, gồm các dòng gốm men trắng, men ngọc, men xanh lục, men nâu, hoa nâu và hoa lam. > Do Gốm thời Trần1225-1339 phát triển kế thừa trực tiếp từ gốm thời Lý, nên các loại gốm thời Trần cơ bản có phong cách giống với gốm thời Lý cả về hình dáng, màu men và hoa văn trang trí. Về hoa văn trang trí mặc dù có cách bố cục hoa văn như thời Lý, nhưng về chi tiết gốm thời Trần không tinh xảo và cầu kỳ như gốm thời Lý. Dễ thấy nhất là với gốm men độc sắc, bên cạnh loại gốm trang trí hoa văn khắc chìm, thời Trần còn phổ biến loại gốm có hoa văn in khuôn trong. Tóm lại, hoa văn trên các sản phẩm gốm sứ rất phát triển ở thời Trần và nó có sự phong phú, đa dạng hơn nhiều về hình mẫu so với gốm thời Lý. Gốm thời Lê sơ Gốm thời Lê sơ 1428-1526 có các thương hiệu dòng gốm được phát triển rất rầm rộ. Điển hình nhất là gốm Chu Đậu và gốm sứ Bát Tràng Gốm sứ Chu Đậu Chu Đậu thời Lê Sơ là xã nhỏ ở huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương. Đây là trung tâm sản xuất gốm sứ cao cấp. Mặc dù gốm Chu Đậu đã xuất hiện từ cuối thời nhà Trần và đến thời Hậu Lê thì bắt đầu phát triển mạnh mẽ. > Hoa văn chủ đạo của gốm sứ Chu Đậu là sen, cúc dưới hình dạng phong phú; hình động vật là chim, cá, côn trùng và người. Gốm sứ Bát Tràng Làng nghề nổi tiếng này hình thành từ thời Lý, Trần. Các sản phẩm của Bát Tràng gồm bát, đĩa, chậu, ấm, bình vôi, bình hoa, gạch, ngói… ngày càng tinh xảo hơn. Men trang trí trên các sản phẩm gốm sứ Bát Tràng có phong cách đặc trưng riêng; hình dáng sản phẩm dày dặn chắc khỏe. Sản phẩm gạch Bát Tràng cũng rất nổi tiếng, dùng lát nhiều sân chùa và đường làng. Bởi thế gốm sứ bát tràng còn được đưa vào trong thơ ca “Ước gì anh lấy được nàng Để anh mua gạch Bát Tràng về xây..” Gốm sứ Việt Nam ngày nay có đặc điểm gì? Tính tới thời điểm hiện tại thì gốm sứ Việt Nam không chỉ khẳng định vị trí của mình trong nước mà còn trên thế giới. Nhiều nước châu Á, châu Âu, đặc biệt là Nhật Bản và Đông Nam Á đã nhập khẩu gốm Việt Nam với số lượng lớn. > Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã đưa ra những kết luận mới về con đường biển thông thương giữa các nước từ Nhật Bản, Việt Nam đến các nước Đông Nam Á, gọi con đường này là “con đường gốm”, thay cho tên “con đường tơ lụa và trầm hương” thường được dùng trước đây. Sự hình thành loại chất liệu sứ với các kỹ thuật sản xuất và trang trí hiện đại hàng loạt các thương hiệu, xưởng sản xuất ra đời. Tuy nhiên thì cái tên Bát Tràng vẫn khẳng định được vị trí của mình không chỉ đối với người Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Hãy cùng chiêm ngưỡng các kiệt tác gốm sứ Việt Nam thương hiệu Bát Tràng thời kỳ hiện đại hóa. Đăng nhập Lịch sử đồ gốm Việt Nam đã bắt đầu từ những món đồ bằng đất sét trộn bột vỏ sò không tráng men, dùng khuôn bằng giỏ đan, màu nâu đậm hay nâu nhạt …qua những vật tích tìm được ở Hoà Bình, ở Bắc Sơn, ở Quảng Yên, ở Thanh Hoá. Trong phạm vi đồ gốm – nét văn minh sơ khởi nhất của con người, bởi vì không có đồ gốm để nấu nướng, cất giữ, ăn uống thì nền văn minh không hình thành – ông cha ta tiếp tục phát huy, học hỏi và ứng dụng kinh nghiệm vào việc chế tạo đồ gốm, tạo nên các nền văn hoá Phùng Nguyên, văn hoá ông Sơn . Dù di tích còn rất ít, nhưng đồ gốm Việt Nam trong thời này đã cho thấy sắc thái của một nền văn hóa cá biệt. Trong những thế kỷ sau đó, đồ gốm Việt Nam đạt được mức phát triển rất cao, đã xuất cảng sang Ả Rập, Nam Dương… Thạp, hũ, liễn trang trí hoa và chim. Gốm hoa nâu, triều Trần thế kỷ 13,14. Sang thế kỷ thứ 10, đồ gốm mang một sắc thái khác với nước men trong, dày, khá đều, với hoa văn chim hạc, cọp, voi, hoa sen, hoa cúc… đã xuất hiện nhiều. Người thợ Việt Nam đã biết cách làm các đường rạn thưa hay dày theo ý muốn. Rồi từ đời Lý đầu thế kỷ 11 đồ gốm Việt Nam phát triển một cách huy hoàng. Nhiều loại men các loại Lý Nâu, Lý en, Lý Trắng, Lý Lục, men ngọc, nhiều hoa văn, nhiều thể loại tràn lan khắp nơi, từ chốn triều đình, chùa, miếu đến thôn dã trong suốt từ thế kỷ 11 đến hết thế kỷ 16 đời Hậu Lê. Hình dáng gốm Việt Nam gồm có dĩa, đĩa, tô, chén, lọ, chai và bình. Cả những kiểu đặc biệt tạo ra bởi nghệ nhân đời Minh như hũ và chén có bệ của thời kỳ 1403-1424 cũng có tương đương trong các loại đồ gốm Việt Nam. Đồ gốm đất Việt Nam được cấu tạo dày và chắc hơn đồ gốm đất Trung Hoa. Thân hình cấu tạo bên ngoài màu nâu và ít có bị lẫn chất bụi hoặc sạn. Dưới chân đồ gốm đất hoặc là để nguyên hoặc được tráng một lớp trơn không màu hoặc một lớp tráng oxide sắt màu nâu. Có đủ loại các lớp trán trên đồ gốm Việt Nam. Loại đồ gốm tráng một màu là những loại thông dụng được xuất khẩu trong thời kỳ đầu. Trắng, xanh cây, đen và nâu là những loại thông dụng và được biết nhiều. Sự tiến triển của kỷ thuật đồ gốm trong giai đoạn đầu là sự trình bày bằng lớp oxide sắt đen và nâu dưới lớp tráng. Sắc thái trình bày rất thanh thoát và giản dị so với lối trình bày trên đồ gốm Trung Hoa. Sự chuyển tiếp từ lối trình bày bằng oxide sắt đến cách dùng cobalt xanh trời là một sự cải tiến quan trọng trong nghệ thuật đồ gốm Việt Nam và chứng kiến một mức độ sản xuất về xuất khẩu chưa từng có trong lịch sử đồ gốm Việt. Thống trang trí hoa sen, cúc dây. Gốm hoa nâu, triều Trần, thế kỷ 13 – 14 Những kiểu trình bày Việt Nam có đặc tính thanh thoát, sáng tạo độc lập khác hẳn với sự xếp đặt phong cảnh, sinh thú của lối trình bày Trung Hoa. Chim, cá, ngựa và nai là những sinh thú thường được trình bày cũng như các con vật huyền thoại như lân và phượng. Rồng tuy vậy lại rất hiếm trong các lối trình bày. Con cá trong đồ gốm Việt Nam, không giống cá kiểng đỏ của đồ gốm Trung Hoa, mà là con cá bông của sông ngòi Việt Nam. Đến giữa thế kỷ 15, đồ gốm xanh trời và trắng chiếm vị trí hàng đầu trong những hàng xuất khẩu. Cũng trong khoảng thời gian nay, một loại đồ gốm mới xuất hiện với cách dùng men trắng, chủ yếu màu đỏ và xanh trời, và thường phối hợp với lớp trình bày xanh trời ở lớp dưới. Nói đến tuyệt đỉnh của Gốm cổ Việt Nam ta không thể không nhắc đến tên “ Gốm Chu Đậu”. Đồ gốm Chu Đậu chìm sâu trong lòng đất, dưới đáy biển suốt mấy trăm năm. Những món còn được lưu giữ ở các viện bảo tàng bên Châu Âu thì đã từng bị xếp lộn vào đồ gốm Trung Hoa. Đồ gốm Chu Đậu được phát hiện nhiều trong các ngôi mộ cổ, đình chùa, từ đường và nhiều nhất là dưới các tầu buôn chìm ngoài khơi Hội An, Đà Nẵng… Đồ gốm Chu Đậu hình dáng thanh tao, nước men trong mà mỏng, hoa văn đầy hình ảnh đời sống thôn làng Việt Nam. Đồ gốm Chu Đậu bắt đầu được sản xuất từ cuối thế kỷ 14, rực rỡ nhất vào thế kỷ 15, 16 rồi tàn lụi vào đầu thế kỷ 17, trong khi các lò gốm khác ở Hải Dương còn sản xuất những món đồ không men nồi đất, chum, vạị.. cho đến thế kỷ 18, hay cho mãi đến bâygiờ như làng Cậy, làng Lâm Xuyên chuyên làm nồi đất không men. Đồ gốm Chu Đậu cũng có nhiều thứ như men ngọc celadon, men nâu, men trắng, men lục. Tuy nhiên tiêu biểu nhất là men trắng trong với hoa văn mầu xanh men trắng chàm và men trắng trong với hoa văn ba mầu vàng, đỏ nâu và xanh lục men tam thái Men ngọc, men trắng, men nâu và men nâu đen thường bị lẫn với đồ gốm đời Lý Trần, tuy nhiên, hoa văn trên men Lý nhiều ảnh hưởng Phật Giáo, hoa văn Chu Đậu phản ảnh đời sống nông thôn Việt Nam, hoa văn trên men Lý thường được vẽ bằng cách khắc chìm hay khắc nổi, hoa văn Chu Đậu được vẽ bằng men mầu, men ngọc thời Chu Đậu cầm thấy nặng tay, chất đất thô hơn và tiếng gõ không thanh như men ngọc của người Tầụ Bình ấm thời Lý thường có vòi hình đầu rồng, hình vòi voi, hình đầu chim… Ngày nay, gốm trong tâm thức người Việt là Gốm của làng Bát Tràng, làng gốm Phù Lãng…tuy gốm hiện đại cũng có một số nét thay đổi nhưng về cơ bản vẫn giữ được truyền thống và linh hồn của gốm xưa. Có thể coi Gốm là dấu ấn của một nền văn minh lúa nước, của một nền văn hóa thuần Việt. Tác giả Thùy Dung Tổng hợp Continue Reading

gốm sứ việt nam qua các thời kỳ